Lãi suất cho vay 6-11%/năm, Thống đốc Hưng nói gì?

VietTimes – Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Lê Minh Hưng đã có những chia sẻ và lý giải cụ thể về mặt bằng lãi suất của Việt Nam so với các nước trong khu vực, tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với Doanh nghiệp lần thứ 2, với chủ đề “Đồng hành cùng doanh nghiệp”.
Xuân Thắng - /
Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng phát biểu tại Hội nghị. (Ảnh: Zing.vn)Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng phát biểu tại Hội nghị. (Ảnh: Zing.vn)

4 tháng đầu năm, tín dụng tăng kỷ lục 5,76%

Cụ thể, ông Hưng cho hay: “Năm 2017, tín dụng tăng trưởng tốt ngay từ đầu năm; đến cuối tháng 4/2017, tín dụng tăng 5,76% so với cuối năm 2016, cao hơn so với cùng kỳ các năm gần đây; trong đó tín dụng VND tăng 5,87% và tín dụng ngoại tệ tăng 4,64%”. Năm 2016, tăng trưởng tín dụng năm 2016 cũng đạt ấn tượng, với tốc độ 18,25%.

Trước đó, theo công bố tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2017, thì cập nhật đến ngày 20/4, tăng trưởng tín dụng đạt 4,86% - tăng mạnh so với mức 2,81% cập nhật một tháng trước đó.

Lưu ý rằng, sau giai đoạn tín dụng tăng trưởng nóng lên tới 11,16% trong 4 tháng đầu năm 2009, tăng trưởng tín dụng lần lượt đạt mức 5,58% năm 2010 và 5,29% năm 2011 và ghi nhận mức tăng trưởng âm trong năm 2012. Giai đoạn sau đó, tăng trưởng tín dụng 4 tháng đầu năm đều ở mức khá thấp.

Như vậy, con số mà Thống đốc Hưng vừa công bố - 5,86% - chính là mức tăng trưởng tín dụng 4 tháng đầu năm đạt kỷ lục kể từ sau năm 2009 đến nay.

Theo ông Hưng, NHNN đã điều hành đồng bộ các giải pháp đảm bảo cung ứng khoảng 70% vốn đầu tư cho nền kinh tế. “Cơ cấu tín dụng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh với tỷ trọng khoảng 80%, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các dự án lớn, trọng tâm, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ (chiếm khoảng 50% tổng dư nợ), trong đó tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn chiếm khoảng 19%; tín dụng đối với DN vừa và nhỏ chiếm khoảng 22% tổng dư nợ của nền kinh tế”.

Dư nợ trung, dài hạn và rủi ro kỳ hạn

Người đứng đầu NHNN cho hay, về tín dụng trung-dài hạn, hiện nay tỷ trọng dư nợ cho vay trung hạn, dài hạn chiếm khoảng 53% tổng dư nợ tín dụng trong khi nguồn vốn huy động trung, dài hạn toàn hệ thống TCTD chỉ chiếm khoảng 15% đang tạo sức ép và rủi ro chênh lệch kỳ hạn cho hệ thống ngân hàng.

Tuy nhiên để tạo nguồn vốn đầu tư, NHNN vẫn đang cho phép các TCTD sử dụng tối đa 50% vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, trong khi lẽ ra vốn đầu tư trung, dài hạn của doanh nghiệp phải được huy động từ thi trường vốn, thị trường chứng khoán; nhưng do các thị trường này chưa phát triển, vốn cung ứng cho nền kinh tế vẫn chủ yếu thực hiện qua hệ thống ngân hàng.

Đối với tín dụng ngoại tệ, NHNN cho phép các TCTD được quyết định cho vay vốn bằng ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn trong nước thực hiện phương án SXKD hàng xuất khẩu cần được hỗ trợ đến hết năm 2017; đồng thời xem xét xử lý các đề nghị của TCTD về việc cho vay bằng ngoại tệ nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng ngoại tệ được vay vốn phục vụ hoạt động SXKD thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích theo chủ trương của Chính phủ, mà không làm tăng chi phí của doanh nghiệp.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các Phó Thủ tướng: Trương Hòa Bình, Vương Đình Huệ, Vũ Đức Đam, Trịnh Đình Dũng tại Hội nghị. Ảnh: VGP/Quang Hiếu

Ngành Ngân hàng cũng đã triển khai mạnh mẽ các chương trình tín dụng ưu đãi đối với các doanh nghiệp thuộc một số ngành, lĩnh vực đặc thù, như cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/NĐ-CP; chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ; cho vay hỗ trợ ngư dân đóng tàu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP; cho vay tái canh cây cà phê; cho vay hỗ trợ nhà ở; chính sách hỗ trợ khắc phục thiên tai, ngập mặn, sự cố môi trường; Hỗ trợ tháo gỡ khó khăn đối với ngành chăn nuôi lợn,...

Tuy nhiên, theo ông Hưng, nhu cầu vốn của doanh nghiệp còn rất lớn. Ông nói: “Mặc dù ngành Ngân hàng đã rất tích cực huy động vốn để đảm bảo đáp ứng cho nền kinh tế, song một phần lớn nguồn lực vẫn còn chưa được khơi thông, đang nằm ở các khoản nợ xấu và các tài sản bảo đảm chưa được xử lý”.

Đáng chú ý, NHNN cũng đang trình Chính phủ, Quốc hội để sớm có Nghị quyết về xử lý nợ xấu, giải phóng các khoản nợ xấu này nhằm tái tạo nguồn vốn lớn để mở rộng cho vay phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có nợ xấu đã được xử lý tiếp cận các khoản vay mới phục vụ sản xuất kinh doanh.

Lãi suất cho vay ở Việt Nam cao hay thấp?

Dẫn số liệu thống kê, Thống đốc NHNN cho biết, mặt bằng lãi suất hiện nay đã giảm mạnh (chỉ bằng 40% lãi suất cuối năm 2011), phù hợp với mục tiêu điều hành, diễn biến tiền tệ và lạm phát, đồng thời đảm bảo hài hòa lợi ích của người gửi tiền - TCTD và khách hàng vay.

Cụ thể, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay diễn biến ổn định từ năm 2016 đến nay, đặc biệt từ cuối tháng 9/2016, một số TCTD đã giảm 0,3-0,5%/năm lãi suất huy động, giảm 0,5-1%/năm lãi suất cho vay đối với SXKD, lĩnh vực ưu tiên.

Lý giải về thực tế chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và một số nước trong khu vực, lãnh đạo cơ quan điều hành “mạch máu kinh tế quốc gia” cho rằng, một số nước trong khu vực (như Nhật Bản, Trung Quốc) có lãi suất cho vay thấp là vì: (1) Lạm phát được kiềm chế ở mức thấp, kinh tế vĩ mô ổn định; (2) Khả năng dự báo và hoạch định kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cao; (3) Hoạt động SXKD của doanh nghiệp không quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Trong khi đó, Việt Nam là nước đang phát triển, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế xã hội của tất cả các khu vực kinh tế đều ở mức cao, kinh tế vĩ mô về cơ bản ổn định nhưng các cân đối lớn của nền kinh tế chưa thực sự bền vững, kỳ vọng lạm phát còn cao và dễ biến động, xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn, đồng thời thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu chưa phát triển đồng bộ dẫn tới nhu cầu vốn của doanh nghiệp cũng như vốn đầu tư cho phát triển kinh tế phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng,... Các yếu tố này đã ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD.

“Tuy nhiên, so sánh số liệu với một số nước trong khu vực như Myanmar, lãi suất cho vay ở mức 13%/năm, Indonesia là 11,9%/năm, Thái Lan là 6,3%/năm, Singapore là 5,4%/năm thì mặt bằng lãi suất cho vay bằng VND của Việt Nam hiện nay khoảng 6-11%/năm, lãi suất cho vay bằng ngoại tệ trong khoảng 3-4% vẫn ở mức tương đối hợp lý với tương quan kinh tế vĩ mô”, ông Hưng nói.

Tại Nghị quyết số 24/2016/QH14 của Quốc hội ngày 8/11/2016 đã chỉ đạo giao ngành Ngân hàng phấn đấu đến năm 2020 giảm lãi suất cho vay trung bình trong nước có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình trong nhóm ASEAN-4.

Thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ để điều hành lãi suất ổn định, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát; tiếp tục chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay; đặc biệt quan tâm đến lãi suất ưu đãi đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ưu tiên, DNNVV, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ cao, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, có sản phẩm cạnh tranh được trên thị trường quốc tế./.

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Close